10 ĐỀ LIÊN HỆ MỞ RỘNG NGỮ VĂN LỚP 12 – Hội Gia sư Đà Nẵng

10 ĐỀ LIÊN HỆ MỞ RỘNG NGỮ VĂN LỚP 12

Vợ chồng A Phủ – Chiếc thuyền ngoài xa – Nỗi khổ của người phụ nữ

Vợ chồng A Phủ - Chiếc thuyền ngoài xa - Nỗi khổ của người phụ nữ
Hội Gia sư Đà Nẵng

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đều viết về nỗi khổ của người phụ nữ song thông điệp mà hai nhà văn muốn gửi đến cho bạn đọc có khác nhau. Hãy chia sẻ quan điểm của anh/chị về ý kiến trên.

– Vợ chồng A Phủ: Nhân vật Mị: thân phận khổ đau của người phụ nữ miền núi trước Cách mạng tháng Tám, chịu sự áp bức bởi thần quyền, cường quyền.

+ Mị chịu thân phận con dâu gạt nợ (bề ngoài con dâu nhưng thực chất là con nợ), bị biến thành công cụ lao động: đối xử không khác gì con vật: suốt ngày chỉ quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, hay đi cõng nước, là con trâu con ngựa trong nhà thống lí; lùi lũi như con rùa trong xó cửa

+ Mị bị đày đọa về tinh thần: Lúc nào Mị cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi, hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc, có lúc định ăn lá ngón để chết nhưng thương cha không nỡ chết, sống đến quen với cái khổ, tồn tại với trạng thái gần như đã chết trong lúc sống, ngay cả khi ngọn lửa khát khao hạnh phúc bùng cháy trong tâm hồn Mị thì nó đã bị dập tắt một cách phũ phàng.

– Chiếc thuyền ngoài xa: nhân vật người đàn bà hàng chài

+ Thiệt thòi về nhan sắc: người đàn bà xấu xí với đường nét thô kệch, mặt rỗ

+ Chịu một cuộc sống đói nghèo: gia đình đông con, cả gia đình sinh sống trên con thuyền chật chội, đói nghèo triền miên (động biển, có khi cả tháng vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối, hạnh phúc là nhìn đàn con được ăn no), bươn trải vì cuộc mưu sinh.

+ Là nạn nhân của nạn bạo hành gia đình: chịu cảnh chồng đánh đập thường xuyên, cảnh bị đánh rất dã man: dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”-> việc chồng đánh cũng như việc những người đàn ông trên thuyền khác uống rượu (nguyên nhân trực tiếp của tình trạng bạo lực ở đây là sự tăm tối, vũ phu của người đàn ông, nhưng nguyên sâu xa là tình trạng đói nghèo, đời sống bấp bênh kéo dài)

1. Mỗi truyện ngắn thể hiện những thông điệp nghệ thuật khác nhau

– Vợ chồng A Phủ:

Mị đã thoát khỏi nỗi khổ bằng nghị lực, bằng sức sống tiềm tàng, đã chạy theo A Phủ để đến Phiềng Sa. Mị và A Phủ đã gặp cán bộ kháng chiến, giác ngộ cách mạng… Qua đây tác giả thể hiện thông điệp:

+ Người phụ nữ trong xã hội trước Cách mạng tháng Tám luôn chịu cuộc sống khổ đau, bất hạnh

+ Người phụ nữ có sức sống tiềm tàng và có thể đổi thay số phận bằng sự tự đứng lên và đi theo cách mạng

– Chiếc thuyền ngoài xa: tác giả thể hiện thông điệp:

+ Thông điệp về cuộc sống

++ Cuộc sống đầy những nghịch lí và bi kịch: giữa bên trong và bên ngoài, thiên nhiên và cảnh đời…, lí thuyết sách vở và thực tiễn đời sống

++ Con người đầy bí ẩn, mang vẻ đẹp khuất lấp: cam chịu- yêu thương, sự cam chịu – thái độ trân trọng nâng niu hạnh phúc bé nhỏ; vẻ ngoài quê mùa, thất học- bên trong sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời…

+ Thông điệp về nghệ thuật

++ Người nghệ sĩ không nên nhìn cuộc sống một cách giản đơn, chỉ thấy vẻ ngoài của cuộc sống mà cần khám phá chiều sâu bên trong.

++ Nghệ thuật cần gắn liền với đời sống hay cần rút ngắn khoảng cách nghệ thuật và đời sống.

2. Đánh giá:

– Sự gặp gỡ của 2 tác phẩm về thân phận của người phụ nữ góp phần làm sâu sắc hơn đề tài về người phụ nữ; sự khác nhau ở thông điệp nghệ thuật cho thấy sự tìm tòi sáng tạo của mỗi tác giả ở cùng một đề tài, làm nên sức hấp dẫn riêng của mỗi tác phẩm.

– Sở dĩ có sự giống nhau: các nhà văn đều quan tâm đến những vấn đề muôn thưở, là sự thể hiện quy luật kế thừa trong văn học.

+ Sự khác nhau ở thông điệp của mỗi tác phẩm nói lên bản chất của sáng tạo nghệ thuật, đáp ứng được yêu cầu của người đọc…

Từ tác phẩm ” Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng đến “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu bàn về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cuộc sống.

Từ tác phẩm " Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" của Nguyễn Huy Tưởng đến "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu bàn về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cuộc sống.
Hội Gia sư Đà Nẵng

Từ tác phẩm ” Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng đến “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu bàn về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cuộc sống.

– “Vĩnh biệt CTĐ” : Vũ Như Tô cả đời theo đuổi cái đẹp nghệ thuật, ông chỉ vì mục đích to lớn nhất của cuộc đời mình là hiến dâng tất cả cho nghệ thuật nên mù quáng, quên đi tất cả, dùng sức dân, của cải của dân để phục vụ cho 1 mục đích duy nhất là công trình nghệ thuật mà ông mơ ước. Để đến cuối cùng, ông phải chết vì cái ước mơ, mông lớn nghệ thuật nhưng lại ko gắn liền với cuộc sống, với cuộc đời.

– “Chiếc thuyền ngoài xa” :
+ Chiếc thuyền khi được Phùng nhìn ngoài xa thì đó chính là cái đẹp trong mắt ông.
+ Nhưng khi nhìn gần hơn, đi qua cái lớp “sương mờ trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của ánh sương mai” thì Phùng lại nhận ra sự đối lập đến “đau đớn” của một nghệ sĩ luôn khát khao tìm kiếm, nâng niu, trân trọng cái đẹp và của 1 người lính luôn bảo vệ công lý.

=> Mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống trong 2 tác phẩm:
+ Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, phục vụ cuộc sống, nếu nghệ thuật xa rời cuộc sống thì chỉ đem đến bi kịch (cái chết của Vũ Như Tô) hay sự nhìn nhận phiến diện về cuộc sống (Phùng)
+ Nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống nhưng cuộc sống ko phải lúc nào cũng đẹp.
+ Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống. Nghệ thuật xa rời cuộc sống chỉ là nghệ thuật “suông” , ko xứng đáng là nghệ thuật chân chính.

–> điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết tìm tòi, khám phá cuộc sống, tìm hiểu nó trên nhiều phương diện, nghệ sĩ chân chính cũng giống như nghệ thuật chân chính ko được xa rời cuộc sống.

So sánh cách kết thúc “Vợ nhặt” với cách kết thúc truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao)

So sánh cách kết thúc “Vợ nhặt” với cách kết thúc truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao)
Hội Gia sư Đà Nẵng

So sánh cách kết thúc “Vợ nhặt” với cách kết thúc truyện ngắn “Chí Phèo” ( Nam Cao ).

1.Giới thiệu tác giả, tác phẩm , nêu vấn đề nghi luận.

2.Phân tích giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của truyện

* Giái thích khái niệm:

-Giá trị hiện thực chính là bức tranh hiện thực đời sống được miêu tả trong tác phẩm…

-Giá trị nhân đạo là thái độ, tình cảm của nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Giá trị nhân đạo được tạo nên bỡi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người, lòng tin vào khả năng vươn dậy của con người…

* Giá trị hiện thực trong tác phẩm “Vợ nhặt” : Phản ánh chân thực bối cảnh nông thôn Việt Nam trong nạn đói và thân phận người dân nghèo trong cảnh đói. (HS lựa chọn các chi tiết phân tích làm rõ : những xác người nằm còng queo bên đường, những khuôn mặt u ám, tiếng quạ thét, tiếng hờ khóc…..).

* Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ nhặt”:

-Niềm xót xa thương cảm đối với tình cảnh sống của người dân nghèo trong nạn đói. Qua đó lên án tố cáo tội ác của bọn thưc dân phát xít ( Nội dung này HS có thể khái quát sau khi phân tích giá trị hiện thực )

– Phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo trong nạn đói : Niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc; tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau ; niềm hi vọng vào tương lai ( HS phân tích vẻ đẹp tâm hồn các nhân vật : Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt). _

-Cách kết thúc tác phẩm : Kết thúc mở với hình ảnh “ đám người đói và lá cờ đỏ phấp phới trên đê Sộp”- gợi xu hướng phát triển theo chiều tích cực : những con người nghèo khổ bị dồn vào bước đường cùng sẽ vùng lên đi theo ngọn cờ ấy ( Cách mạng) và họ sẽ có một tương lai tươi sáng, tốt đẹp…( Nhà văn đã chỉ ra được con đường để thay đổi cuộc đời những người dân nghèo)

3. So sánh với cách kết thúc tác phẩm “ Chí Phèo”.

– Cùng viết về hiện thực đời sống của người dân lao động trước Cách mạng tháng Tám nhưng cách kết thúc ở 2 tác phẩm khác nhau.

– Cách kết thúc truyện“Chí Phèo”: Chí Phèo chết. Nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong đầu thị hiện ra hình ảnh “ Cái lò gạch cũ bỏ không xa nhà cửa và vắng người qua lại”.

+ Cách kết thúc tạo nên một kết cấu vòng tròn cho tác phẩm gợi nhiều suy nghĩ : Lại sẽ có một Chí Phèo con ra đời – tình trạng lưu manh hóa, tha hóa vẫn còn tiếp diễn nếu không thay đổi thực tại.

+ Chí Phèo chết. Đó là kết cục tất yếu khi con người ( đã thức tỉnh ) bị dồn đẩy đến bước đường cùng buộc phải lựa chọn giữa cái chết và sống lưu manh, tha hóa.

– Cách kết thúc thể hiện cái nhìn bi quan, bế tắc trước hiện thực. Nhà văn chưa tìm ra được lối thoát cho số phận những người dân nghèo.

4. Lí giải nguyên nhân tạo nên sự khác nhau trong cách kết thúc.

Do yếu tố thời đại nên cách nhìn hiện thực và cách giải quyết hiện thực của 2 tác giả khác nhau ( 2 tác phẩm thuộc 2 thời kì văn học khác nhau : Trước và sau cách mạng tháng Tám…;được viết theo hai nguồn cảm hứng khác nhau : hiện thực và sử thi lãng mạng…)

5.Đánh giá chung : Tác phẩm “Vợ nhặt” mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc(….); giá trị nhân đạo có nét mới mẽ so với các tác phẩm văn học hiện thực trước Cách mạng.

Liên hệ Tây tiến và Việt Bắc

Liên hệ Tây tiến và Việt Bắc
Hội Gia sư Đà Nẵng

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi…”

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, trang 88)

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, trang 112)

Mở bài:
– Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài, tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm Tây Tiến. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên và con người nơi tác giả cùng gắn bó khi tham gia trong đoàn quân Tây Tiến. Bốn câu thơ đầu đã thể hiện rõ nét nội dung cũng như cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của tác giả.

– Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc của người cán bộ kháng chiến với chiến khu và con người nơi núi rừng Việt Bắc. Bốn câu thơ thuộc phần một của bài thơ đã khắc họa phần nào đạo lí ân tình thủy chung đó.

Thân bài:
* Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

– Hai câu đầu bộc lộ nỗi nhớ da diết của tác giả về cảnh núi rừng Tây Bắc và người lính Tây Tiến. Những hình ảnh hiện về trong nỗi nhớ bao trùm lên cả không gian và thời gian.

– Tiếng gọi Tây Tiến ơi đầy tha thiết, trìu mến; điệp từ nhớ thể hiện nỗi nhớ cháy bỏng; từ láy chơi vơi vẽ ra trạng thái của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ dàn trải, da diết.

– Hai câu còn lại khắc họa vẻ đẹp của người lính trên đường hành quân gian khổ. Thời gian từ sáng sớm đến đêm khuya cho thấy sự gian lao, vất vả và sự tinh tế trong cảm nhận của người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân.

– Từ ngữ chỉ địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hoang sơ, vắng vẻ; Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa thực và ảo; Sự kết hợp hiệu quả giữa âm vần rồi, ơi, chơi vơi, hơi tạo âm hưởng thiết tha, bồi hồi.

* Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

– Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi về những trận đánh nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc cùng gắn kết với con người trong chiến đấu với kẻ thù.

– Dưới con mắt nhà thơ, thiên nhiên, núi rừng nơi đây trở nên có ý chí, có tình người. Đoạn thơ góp phần khẳng định thiên nhiên và con người Việt Nam thật anh dũng, kiên cường trong chiến đấu chống lại kẻ thù.

– Sử dụng nghệ thuật nhân hóa, lặp từ mang hiệu quả biểu đạt cao; Hai từ che, vây đối lập làm nổi bật vai trò của núi rừng chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

* So sánh hai đoạn thơ:

– Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng về thiên nhiên và con người ở những nơi mà người linh đã từng đi qua và in dấu nhiều kỉ niệm.

– Điểm khác biệt:

+ Đoạn thơ trong Tây Tiến bộc lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc, toát lên vẻ hào hoa, lãng mạn, hình ảnh thơ nghiêng về ý nghĩa tả thực.

+ Đoạn thơ trong Việt Bắc thông qua nỗi nhớ để thể hiện cái tình, lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ kháng chiến đối với đất và người Việt Bắc, hình ảnh thơ nghiêng về ý nghĩa khái quát, tượng trưng.

Kết bài
– Đánh giá chung: Nội dung chủ yếu của hai đoạn thơ là thể hiện nỗi nhớ về cảnh và người nơi núi rừng Tây Bắc và chiến khu Việt Bắc.

– Khẳng định: Hai đoạn thơ đã thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc của con người khi nghĩ về một thời quá khứ gian khổ mà hào hùng.

Liên hệ “Chiếc thuyền ngoài xa” và “Vợ nhặt”

Liên hệ "Chiếc thuyền ngoài xa" và "Vợ nhặt"
Hội Gia sư Đà Nẵng

“Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” (Vợ nhặt – Kim Lân)
“Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt” (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)
Trình bày cảm nhận của anh/chị về chi tiết “dòng nước mắt” trong những câu văn trên.

I. Mở bài
· Giới thiệu về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
· Hai nhà văn đều thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân văn trong sự nghiệp VH
· Hai tác phẩm khắc họa tình người, tình mẹ, trong đó chi tiết “dòng nước mắt” là một phương tiện biểu hiện.
II. Thân bài
a) Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Vợ nhặt
· Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
· Nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của bà cụ Tứ – mẹ Tràng: tình huống truyện anh Tràng nhặt vợ, diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
· Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
· Là biểu hiện của nỗi đau khổ, tủi phận: con lấy vợ vào giữa ngày đói khiến bàlão vừa mừng lại vừa tủi, vừa lo lắng…
· Giọt nước mắt chỉ “rỉ” ra hiếm hoi bởi cả đời đã cạn khô nước mắt trong những tháng ngày khốn khổ dằng dặc…
· “Kẽ mắt kèm nhèm” là sự hiện hình của một bức chân dung đầy khổ hạnh của người phụ nữ nông dân lớn tuổi
· Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng
· Đánh giá:
· Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc:
· Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm trước cách mạng, trong nạn đói 1945
· Nhân đạo: cảm thông thương xót; tố cáo xã hội; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ
· Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội tâm nhân vật đặc sắc.
b) Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Chiếc thuyền ngoài xa
· Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
· Nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của NĐBHC: câu chuyện gia đình hàng chài, diễn biến tâm trạng NĐBHC
· Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
· Là biểu hiện của nỗi đau đớn: gia cảnh nghèo khó bế tắc -> tình trạng bạo lực trong gia đình không có lối thoát → câu chuyện thằng con phạm vào tội ác trái luân thường đạo lí không thể giải quyết, nỗi lo lắng về sự phát triển nhân cách lệch lạc của con đã không tìm được giải pháp…
· Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng, khi chồng đánh không hề có bất kì phản ứng nào, nhưng hành động của thằng con khiến chị như sực tỉnh, như bị một viên đạn xuyên qua tâm hồn để thức dậy nỗi đau tận cùng
· Đánh giá:
· Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc:
· Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm sau chiến tranh và đêm trước thời kì Đổi mới 1986
· Nhân đạo: cảm thông thương xót; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ
· Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội tâm nhân vật đặc sắc.
c) So sánh
· Điểm tương đồng
· Về nội dung:
· Đều là những dòng lệ của người phụ nữ, của người mẹ trong hoàn cảnh nghèo đói và khốn khổ
· Đều là “giọt châu của loài người”, giọt nước chan chứa tình người trào ra từ tâm hồn những bà mẹ giàu lòng vị tha, đức hi sinh
· Đều góp phần thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm: phản ánh hiện thực xã hội trong những thời điểm khác nhau; thể hiện tấm lòng thương cảm đối với bi kịch của con người và sự trân trọng vẻ đẹp tình đời, tình người của tác giả.
· Về nghệ thuật: Đều cho thấy ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc của hai nhà văn qua việc lựa chọn chi tiết đặc sắc
· Điểm khác biệt
· Về nội dung: Hoàn cảnh riêng của 2 nhân vật khác nhau- nước mắt cũng mang những nỗi niềm riêng
· Chi tiết dòng nước mắt của bà cụ Tứ gắn với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ; bà cụ cảm thấy ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con mình và cũng xót tủi cho chính thân phận mình. Nhưng phía trước bà cụ là ánh sáng của hạnh phúc nhen nhóm
· Còn dòng nước mắt của người đàn bà hàng chài chan chứa sau sự việc thằng Phác đánh lại bố để bảo vệ mẹ và hoàn cảnh éo le, ngang trái của gia đình bà đã diễn ra trước mắt nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng; người phụ nữ vùng biển này thấy đau đớn, nhục nhã vì không thể giấu được bi kịch gia đình, vì thương xót, lo lắng cho con. Phía trước chị là một màu mù xám, bế tắc
· Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử dụng hình thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt ví von, hình ảnh.
d) Lí giải
· Vì sao giống? Giống về nội dung vì cùng hướng đến:
· Từ nỗi đau -> đề xuất giải pháp cách mạng
· Từ vẻ đẹp tâm hồn -> ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ VN truyền thống -> cùng là những nhà văn hiện thực và nhân đạo sâu sắc
· Vì sao khác?
· Hoàn cảnh khác và tương lai khác do được viết trong những bối cảnh khác nhau (KL từ sau khi CM thành công nhìn lại viết nên mang cảm quan lạc quan; NMC nhìn trong hiện tại nên không dám chắc chắn tin tưởng ở tương lai) – PCNT của mỗi tác giả khác biệt không trộn lẫn
III. Kết luận
· Khẳng định vấn đề: vẻ đẹp và sức mạnh của dòng nước mắt người mẹ.
· Khẳng định giá trị tác phẩm và vị trí của tác giả trên văn đàn.

So sánh việc Mị và Chí Phèo uống rượu

So sánh việc Mị và Chí Phèo uống rượu
Hội Gia sư Đà Nẵng

So sánh việc Mị và Chí Phèo uống rượu

1. Mị uống rượu:

+ xuất thân của Mị: Mị là ng con gái H’Mông đẹp người, đẹp nết và căng tràn sức sống nhưng số phận của Mị trở nên tăm tối khi Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà PÁ Tra

+ Hoàn cảnh Mị uống rượu: Khi Mị đang ở nhà thống lí Pá Tra; Trong một đêm tình xuân khi mà muôn vật đang ở thì tươi đẹp; rộn ràng khắp nơi.

+ Phân tích cảnh Mị uống rượu: Trc khi uống rượu Mị chỉ như con rùa lùi lũi nơi xó cửa; mảnh đất và không gian mùa xuân đã gieo mầm hi vọng sống trong cô gái trẻ. Mị uống rượu và thả hồn theo giai điệu của tiếng sáo Mèo; Mị nhỡ lại thời kỳ xuân xanh của mình; mùa xuân đến được đi chơi; đc đắm chìm trong giai điệu của tiếng sáo Mèo; đc đi theo tiếng gọi của trái tim và tình yêu mãnh liệt.

” Mị còn trẻ, Mị muốn đi chơi” : men rượu làm cho Mị tỉnh ra, ý thức đc sự ham sống của tuổi trẻ. Mị muốn đi chơi như bao cô gái đã có chồng khác. Tiếp theo là hàng loạt nh~ hành động thể hiện sự ý thức về sự sống của Mị “lấy mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng”; “lấy váy hoa trên vách”; ….

=> Men rượu làm cho Mị từ cái xác không hồn trở nên có ý thức về sự sống; có ý thức muốn sống và thoát khỏi cuộc sống hàng ngày.

=> Sức sống tiềm tàng không bao giờ mất đi; khi có cơ hội nó sẽ bùng cháy mạnh mẽ như ngọn lửa => giá trị nhân đạo tác giả gửi gắm

2. Chí Phèo uống rượu:

+ xuất thân: trc khi bị vào tù, CP là một chàng canh điền lương thiện đi ở cho nhà Bá Kiến; do Bá Kiến ghen tuông đã đẩy CP vào tù. Sau 3 năm ở tù ra CP trở thành 1 kẻ khác hẳn; không còn là anh canh điền lương thiện năm xưa nữa, CP chìm ngập trong rượu chè sớm tối. Và bi kịch của CP cứ tiếp diễn từ đó

+ Hoàn cảnh uống rượu: Sau khi ra tù và trc khi gặp Thị Nở, CP lúc nào cũng trong tình trang say khướt. Thế nhưng từ khi gặp Thị và có tình yêu vỏn vẹn trong 5 ngày, CP đã giữ cho mình luôn tỉnh táo. Rồi sau 5 ngày bị Thị cự tuyệt CP trở về với rượu, men rượu là thứ để CP giải khuây trong lòng. Trong lúc uống rượu CP đau khổ khi nhận ra bi kịch của bản thân.

+ Phân tích:

CP tìm đến rượu để giải tỏa nỗi đau bị Thị Nở cự tuyệt; nhưng càng uống CP càng tỉnh ra càng nhận thấy sự thật đắng cay rằng đến cầu nối giúp CP trở về bờ bến lương thiện đã mất. CP bị cự tuyệt làm người, bị cả cộng đồng làng Vũ Đại xa lánh và không bao giờ đc hòa nhập lại nữa.

CP uống rượu và có lẽ đó là lúc CP tỉnh táo nhất, CP nhận ra kẻ thù đã đẩy mình đến bước đg cùng này ko ai khác chính là Bá Kiến. Tuy mồm chửi cô cháu Thị Nở, nhưng bước chân lại dẫn CP cầm dao tới nhà BK và đâm chết kẻ thù đã hại mình.

=> Thấy đc giá trị hiện thực: cuộc sống ng nông dân trong XHPK, khổ vì bi kịch là ng nhưng ko đc chấp nhận là ng

=> Tư tưởng tác phẩm

3. so sánh

+ Giống: CP và Mị tìm đến rượu khi cuộc sống của họ đang gặp phải bế tắc.

CP và Mị đều là công cụ trong tay của bọn cường hào PK thời bấy giờ

CP và Mị đều có xuất thân trong sáng, không chút bùn nhơ nhưng bị XH xô đẩy và bị kiềm tỏa bởi những hủ tục phong kiến

+ Khác:

Mị: Ý thức đc sự sống, sự sống trong Mị luôn cháy âm ỉ chờ ngày bùng cháy => tương lai một ngày nào đó sẽ thoát ra khỏi đc cuộc sống tăm tối hiện tại

CP: Ý thức sống bị dập tắt đến bi thảm => cái chết => một vòng luẩn quẩn sẽ vẫn còn lặp lại

Hãy phân tích và chứng minh qua hai truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Hãy phân tích và chứng minh qua hai truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Hội Gia sư Đà Nẵng

Nhân đạo là một trong hai cảm hứng chủ đạo xuyên suốt nền văn học Việt Nam. Cảm hứng nhân đạo đó ở văn học từ 1930 đến 1945 có gì giống và khác ở văn học từ 1945 đến 1975 ?
Hãy phân tích và chứng minh qua hai truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (theo Ngữ văn 11, tập 1) và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (theo Ngữ văn 12, tập hai).
BÀI LÀM
“Giá trị nhân đạo là giá trị căn bản của một tác phẩm văn học chân chính” và hạt nhân cơ bản của giá trị ấy là lòng yêu thương con người. Nhân đạo là một trong hai cảm hứng chủ đạo xuyên suốt nền văn học Việt Nam. Tùy theo mỗi giai đoạn văn học mà giá trị ấy có cách thể hiện khác nhau. Hai tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao và “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là hai tác phẩm tiêu biểu cho những giá trị ấy.
Theo từ điển tiếng Việt thì giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của một tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng của nhà văn trước những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin vào khả năng vươn dậy của con người trong hoàn cảnh khốn cùng. Văn học viết Việt Nam từ những thế kỷ trung đại đến nay luôn coi trọng nội dung nhân đạo, xem đó là nguyên tắc sáng tác văn học. Nhìn chung từ năm 1930 cho đến năm 1975 văn học nước nhà đứng trước cơn bão táp của lịch sử. Những cuộc chiến tranh, sự thay đổi của xã hội nên mỗi giai đoạn, cảm hứng nhân đạo cũng có nhiều điểm giống và khác nhau. Nhất là giai đoạn 1930 – 1945 và từ 1945 đến 1975. Trong vấn đề mà ta đang đề cập tới là hai tác phẩm tiêu biểu cho hai giai đoạn văn học khác nhau. “Chí Phèo” là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn văn học trước 1945 và “Vợ chồng A Phủ” là tiêu biểu cho giai đoạn sau 1945.
Về những điểm giống nhau giữa hai tác phẩm, trước hết ta thấy, cả hai nhà văn Tô Hoài và Nam Cao đều chung nhau một điểm nhìn. Đó là họ đã nhìn thấy nỗi khổ đau của con người bị áp bức, bị bóc lột, bị chà đạp, bị lăng nhục. Đó là những người nông dân nghèo khổ dưới chế độ cũ. Từ đó, nhà văn đồng cảm với những số phận bất hạnh. Nhà văn đứng về phía họ, bênh vực cho nhân vật của mình.
Nam Cao là nhà văn của trào lưu hiện thực phê phán. Ông luôn tâm niệm “đứng trong lao khổ để nhìn về lao khổ” cho nên những nhân vật của ông đều hiện lên từ những cảm thông, đồng cảm. Ở “Chí Phèo”, Nam Cao miêu tả Chí nh¬¬ư là nạn nhân của xã hội “người ăn thịt người”. Chí hiền lành, lương thiện nhưng giai cấp thực dân, phong kiến đã đẩy Chí vào con đường bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa, tha hoá. Bá Kiến – hiện thân của chế độ phong kiến thối nát đã tiếp tay cho nhà tù thực dân biến Chí Phèo từ một anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành thành một anh Chí lưu manh. Hắn bị cái nhà tù ấy vằm cho nát bộ mặt người thành con quỷ dữ với khuôn mặt của “một con vật lạ”. Không những thế, nhân cách, phẩm giá của hắn cũng bị biến chất. Chí trở thành quỷ dữ, khát máu: “đạp đổ biết bao cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao người dân lương thiện”. Nỗi đau đớn đó của nhân vật cũng là nỗi đớn đau của nhà nhân đạo Nam Cao.
Nhưng sự xuất hiện của Thị Nở và tấm lòng yêu thương, trân trọng của nhà văn, nhất là sau cái đêm gặp Thị Nở khiến Chí khao khát hoàn lương, khao khát “được làm hòa với mọi người”. Nhưng ngay cả cái khao khát được sống với Thị Nở để thực hiện ước mơ thời tuổi trẻ cũng không được. Để rồi cuối cùng Chí phải chết đau khổ trên ng-ưỡng cửa trở về chính mình . Câu hỏi cuối tác phẩm “Ai cho tao lương thiện” mãi mãi là nỗi niềm day dứt của Chí, của Nam Cao, của tất cả chúng ta về nỗi đau thân phận con người.
Có thể là không nhiều tình cảm bằng khi miêu tả Chí Phèo nhưng khi miêu tả thị Nở với tất cả sự thiệt thòi nhất của hoá công: Xấu, nghèo, dở hơi, dòng giống mả hủi. Nhà văn đã bày tỏ nỗi niềm đồng cảm của mình đối với thân phận con người. Sự đồng cảm còn thể hiện ở việc thấu hiểu khát khao tình yêu, hạnh phúc của thị, rất muộn mằn, khiêm tốn, chỉ là một ng¬ười đàn ông như¬ Chí Phèo nh¬ưng cũng không có đ¬ược. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Ở “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài lại đồng cảm sâu sắc với số phận ng¬ười lao động ở miền núi như¬ Mị và A Phủ. Họ là những người lao động nghèo, nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi để nô lệ hóa con người. Mị – cô gái Mèo trẻ đẹp, mơn mởn như bông hoa ban ngát hương của núi rừng nhưng lại héo úa trong cái ô cửa sổ nhỏ như lòng bàn tay “trông ra ngoài không biết sương hay là nắng”. Món nợ của mẹ cha khiến cô gái ấy trở thành thân phận súc nô trong nhà thống lý. Tô Hoài đã đau đớn cho kiếp người bị chà đạp cả về thể xác lẫn nhân phẩm. Mị bị bóc lột sức lao động một cách đầy khổ nhục “hơn trâu ngựa”. Rất nhiều lần trong tác phẩm nhà văn đã so sánh Mị với con ngựa, con trâu, còn rùa nuôi trong xó cửa. Không chỉ vậy, Mị còn bị cướp đoạt tình yêu, hạnh phúc, tuổi trẻ. Bị thần quyền áp chế, cả Mị, A Phủ và những người đàn bà khác đều tin rằng mình đã bị cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra cho nên chỉ còn biết “đợi ngày rũ x¬ương ở đây thôi”.
Nhà văn cũng đau đớn trước tình trạng A Phủ bị đánh đập trong một buổi xử kiện bất công mà người đâm đơn đi kiện cũng chính lại là những kẻ ngồi ghế quan tòa. A Phủ bị tước đoạt tự do bằng cảnh chịu trói, bị đánh cho đến khi “đầu đuôi mắt bị dập chảy máu… đầu gối sưng bạnh như mặt hổ phù”. Rồi đến cả cái cảnh phải chịu trói vào cột nhà chờ chết vì tội để hổ bắt mất một con bò. Nhà văn đã lên tiếng trước cảnh con người bị xem rẻ còn hơn con vật.
“Vì chưng hay ghét bởi vì hay thương”, vì yêu thương nhân dân nghèo khổ lại phải chịu bao tầng áp bức. Tô Hoài và Nam Cao đã cùng nhau cất lên tiếng nói tố cáo, lên án những thế lực bạo tàn gây đau khổ cho con ng¬ười:
Trong tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao tố cáo các thế lực: Thực dân Pháp – gián tiếp qua hình ảnh nhà tù. Phong kiến cấu kết với thực dân, phát xít bóc lột người nông dân đến tận x¬ương tuỷ và đẩy họ vào con đường lưu manh tha hoá, tiêu biểu cho giai cấp đó là bá Kiến. Nhà văn cũng lên án những thành kiến nghiệt ngã của xã hội (lời bà cô thị Nở) đã đẩy những khát vọng của con người rơi vào tuyệt vọng. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài lên án giai cấp thống trị miền núi, tiêu biểu là cha con thống lí Pá Tra. Bóc lột ng¬¬ười lao động bằng cách cho vay nặng lãi và lợi dụng sức lao động của con ng¬¬ười : Mị phải làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, món nợ truyền kiếp, thực chất là một thứ ng¬ười ở không công. A Phủ vay tiền của Pá Tra để nộp vạ và trở thành ng¬¬ười ở trừ nợ, ngư¬ời ở không công. Mị, trư¬¬ớc khi về nhà Pá Tra là một cô gái rất yêu đời, yêu cuộc sống. Sau khi về nhà Pá Tra chỉ còn là con trâu, con ngựa, con rùa, lầm lũi cả ngày không nói, chỉ biết vùi vào việc làm cả đêm cả ngày như¬ một cỗ máy. A Phủ, tr¬¬ước khi về nhà Pá Tra là một thanh niên với tính cách tự do, mạnh mẽ, không sợ cư¬ờng quyền, bạo lực. Sau khi về nhà Pá Tra trở thành một nô lệ, làm lợi cho nhà thống lí. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Bằng tấm lòng nhân đạo cao cả, bằng tình yêu thương dành cho những con người lao động. Tô Hoài và Nam Cao đã khám phá, trân trọng nâng niu những vẻ đẹp của các nhân vật. Đồng thời cả hai nhà văn cũng đồng tình với ¬ước mơ, nguyện vọng chính đáng của con người, khát khao đổi thay số phận cho họ. “Ở Chí” Phèo, Nam Cao phát hiện bên trong sâu thẳm con quỷ dữ ấy Chí là con người hiền lành, lương thiện. Hắn hiền như đất, biết yêu, biết ghét và cũng biết khinh, có lòng tự trọng trước những nhục dục đê hèn của bà Ba, biết “nhục hơn là thích” khi bị bà Ba bắt bóp chân “mà cứ bóp lên trên”. Không những thế, nhiều lần nhà văn khẳng định bản chất hiền lành, l¬ương thiện của Chí, ngay cả khi Chí là con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Phải chăng, sau cái đêm trăng bên bờ sông với Thị Nở, Chí đã được sống với phần đời còn lại với phẩm chất “Người” nhất. Nhà văn cảm động khi thấy Chí lặng im nghe “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài đuổi cá, tiếng của mấy bà đi chợ về”. Để rồi sau đó, bát cháo hành đã làm Chí khao khát được trở về cuộc đời, khao khát làm hòa với mọi người và khao khát được trở lại với ước mơ thời trai trẻ với mái ấm gia đình có “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ ở nhà dệt vải”. Nước mắt của quỷ dữ cũng đã bắt đầu “hình như ươn ướt”. Đó là phút giây người nhất của Chí Phèo mà chỉ có tấm lòng nhân đạo cao cả như Nam Cao mới thấu hiểu được. Cũng như thế, khi viết về Thị Nở. tâ,s lòng của Nam Cao cũng đã nhìn thấy, tận trong sâu thẳm của người đàn bà dở hơi và có dòng giống mả hủi ấy lại là một con người – một người phụ nữ nhân hậu, hiền lành.(Thầy Phan Danh Hiếu)
Ở “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã ngợi ca vẻ đẹp ng¬ười lao động miền núi Tây Bắc mà điển hình là nhân vật Mị và A Phủ. Mị là cô gái đẹp người lại đẹp nết. Nhà văn gián tiếp miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của Mị qua chi tiết “những đêm tình mùa xuân trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị”. Mị lại biết thổi sáo hay mà “thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Cô gái trẻ ấy lại giàu lòng tự trọng, giàu lòng hiếu thảo với mẹ cha. Cô sẵn sàng ném nắm lá ngón xuống đất để quay trở về làm kiếp ngựa trâu để báo hiếu cho cha già. A Phủ là chàng trai có sức vóc có thể “chạy nhanh như ngựa”. Tính lại ham làm, yêu lao động “săn bò tót bạo… biết đục cuốc, đúc lưỡi cày, lại cày giỏi”. Với những phẩm chất ấy, họ đáng lẽ ra phải được hưởng một cuộc sống tự do nếu không có bàn tay độc ác của bọn chủ nô phong kiến miền núi.
Những con người lao động ấy còn ẩn chứa trong tâm hồn sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Dù bị vùi dập phũ phàng, sức sống ấy vẫn trỗi dậy mỗi khi có dịp lại bùng cháy lên như lửa. Mị bị áp bức bóc lột, bị thần quyền áp chế, bị tước đoạt hạnh phúc, tuổi trẻ. Cuộc đời của cô gái trẻ ấy tưởng như chỉ biết “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Tâm hồn ấy tưởng như đã sạn chai vì khổ đau thì bỗng một đêm mùa xuân cháy bùng lên niềm khao khát được vượt ngục. Cô đã sống lại những phút giây đẹp nhất của tuổi trẻ. Điệu sáo của ai gọi bạn tình đã đánh thức cô Mị ngày trước. Đánh thức cả cái ký ức tươi đẹp một thời. Và rượu cùng chất men say của nó đã làm Mị như được phục sinh. Mị thấy lòng “phơi phới trở lại”, thấy “vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Khao khát tự do được trỗi dậy, cô gái ấy đã nhận ra chính mình: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Và ngay cả lúc bị A Sử trói đứng vào cột bằng một thúng sợi đay. Mị vẫn không hay, không biết. Có lúc “Mị vùng bước đi”. Thế mới biết sức sống tiềm tàng trong Mị đã lớn hơn tất cả thế lực của cường quyền. Sức sống ấy lại thêm một lần trỗi dậy trong đêm cởi trói cho A Phủ. Đó là cái đêm mà Tô Hoài dường như cũng nín thở dõi theo hành động Mị. Ở đó, một con người vô cảm bỗng dưng được đánh thức bởi giọt nước mắt của A Phủ “bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Giọt nước mắt ấy đã rơi xuống trái tim đầy giá băng của Mị, thức dậy lòng thương người vốn bị vùi lấp trong Mị. Lòng thương người, niềm đồng cảm với thân phận nô lệ đã thúc dục Mị cởi trói cho A Phủ. Và tiếng gọi của tự do đã đưa họ đến với ánh sáng của tự do.
Nhà văn cũng đã nhìn thấy trong chàng trai mồ côi A Phủ là tất cả những điều tốt đẹp nhất. Vốn là con người của tự do, không cam chịu ở dưới cánh đồng thấp, mới mười tuổi A Phủ đã ngang bướng trốn lên vùng núi cao. Lúc bị đánh trong vụ xử kiện quái gở, anh chỉ quỳ và “im như tượng đá”. Lúc được cởi trói, A Phủ quật sức vùng lên chạy. Đó là vẻ đẹp của con người yêu mến tự do, khao khát tự do. Cuối cùng, tình yêu tự do đã đưa A Phủ và Mị đến với miền đất hứa Phiềng Sa – nơi họ nên nghĩa vợ chồng và cùng với du kích bảo vệ quê hương.
Bên cạnh những điểm giống nhau trong tư tưởng nhân đạo, ta thấy ở “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ” còn nhiều điểm khác biệt. Trong tác phẩm “Chí Phèo”- Nam Cao nhìn những ng¬ười nông dân như¬ Chí Phèo, thị Nở là những nạn nhân, sản phẩm của hoàn cảnh xã hội thực dân phong kiến. Mặc dù đồng tình và khao khát đổi thay số phận cho những ngư¬ời nông dân cùng hơn cả dân cùng, những con ng¬ười dư¬ới đáy xã hội, bị xa lánh, hắt hủi nh¬ưng tác giả cũng đành bất lực: Kết thúc tác phẩm là sự chấm dứt đột ngột của mối tình Chí Phèo thị Nở, là cái chết bi phẫn của Chí trên ng¬ưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện, thể hiện cái nhìn bi quan về t¬ương lai của ng¬ười nông dân. Còn trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài nhìn ng¬ười lao động miền núi Tây Bắc không phải là nạn nhân của hoàn cảnh mà là những ng¬ười có khả năng cải tạo hoàn cảnh. Đồng tình với khát vọng đổi thay số phận của họ, quan trọng hơn, ông đã chỉ ra con đ-ường tất yếu họ cần phải đi và khẳng định khả năng đi tới cách mạng của họ, đấu tranh tự giải phóng chính mình: Mị, A Phủ đã giải thoát cho nhau, cùng nhau tới Phiềng Sa trở thành du kích.
Như vậy, qua việc phân tích tư tưởng nhân đạo của hai tác phẩm “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ” ta thấy được giá trị nhân đạo trước và sau năm 1945 vừa có điểm chung thống nhất vừa có sự riêng biệt. Về điểm chung ta thấy: cả hai tác phẩm đều ca ngợi vẻ đẹp của con ng¬ười, nhất là tầng lớp nhân dân cực khổ lầm than. Tố cáo, lên án những thế lực bạo tàn gây đau khổ cho con người. Đồng cảm với những số phận bất hạnh. Đồng tình với ¬ước mơ, nguyện vọng chính đáng của con người và khát khao đổi thay số phận cho họ.(Thầy Phan Danh Hiếu)
Tuy nhiên, do hoàn cảnh xã hội cho nên nội dung nhân đạo có sự khác nhau: Văn học từ 1930 đến 1945 coi con ng¬ười là nạn nhân bất lực của hoàn cảnh. Nhà văn khao khát đổi thay số phận cho con ng¬ười như¬ng bế tắc, bất lực. Chí Phèo mở đầu xuất hiện bên chiếc lò gạch, cuối cùng lại hiện lên với cái lò gạch, Chí Phèo con lại ra đời. Đó là một vòng tròn luẩn quẩn, không lối thoát. Sở dĩ như vậy là vì các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 (chủ yếu là các nhà văn hiện thực phê phán): Mang ý thức hệ tư¬ sản, tiểu t¬ư sản, hầu hết ch¬ưa tham gia cách mạng nên mới chỉ thấy tác động một chiều của hoàn cảnh đối với con ng¬ười, nhìn con ng¬ười và hiện thực xã hội có phần bi quan.
Văn học từ 1945 đến 1975, lại quan niệm con ng¬ười không phải là nạn nhân của hoàn cảnh mà có khả năng cải tạo hoàn cảnh. Bằng chứng là Mị và A Phủ có thể thay đổi số phận của mình bằng chính sự đấu tranh bản thân. Nhà văn khẳng định và tin t-ưởng khả năng cách mạng của con ng¬ười d¬ưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp họ nhanh chóng đổi thay số phận. Điều này là rõ rồi vì các nhà văn 1945-1975, họ đồng thời là những chiến sĩ cách mạng, trực tiếp tham gia vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản nên có tinh thần lạc quan cách mạng, thấu suốt t¬ương lai.
Tóm lại, cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nền văn học Việt Nam. Về cơ bản có những biểu hiện chung song ở mỗi thời kì, giai đoạn, do hoàn cảnh lịch sử xã hội, do ý thức hệ t¬ư t¬ưởng của các nhà văn khác nhau, lại có những biểu hiện riêng. Sự giống và khác của cảm hứng nhân đạo ở hai giai đoạn văn học tạo nên sự phong phú, đa dạng trong thành tựu của nền văn học n¬ước nhà về mặt nội dung tư tưởng. Và hai tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao và “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là hai tác phẩm minh chứng rõ ràng nhất cho sự nhất quán và riêng biệt của hai giai đoạn văn học ấy.

So sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

So sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài
Hội Gia sư Đà Nẵng

So sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Bài làm

Giới thiệu ngắn gọn về hai tác giả, hai tác phẩm, hai nhân vật.
– Kim Lân là nhà văn viết nhiều và viết khá hay về đời sống nông thôn cũng như những người nông dân hiền lành chất phác. Viết về cuộc sống, số phận, cảnh ngộ của những con người trong những năm xảy ra nạn đói năm Ất Dậu, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu cho những khám phá của nhà văn về vẻ đẹp của người nông dân mà nổi bật là hình ảnh người vợ nhặt với khát vọng sống mãnh liệt.
– Nguyễn Minh Châu là một trong những người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được kể lại từ điểm nhìn trần thuật của người nghệ sĩ mang tên Phùng – một nghệ sĩ trên hành trình khai phá nghệ thuật đồng thời tác phẩm cũng góp phần thể hiện những khám phá mới mẻ của nhà văn về hiện thực và về con người. Một thành công nổi bật của tác phẩm là những phát hiện về vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài.
2. Cảm nhận về vẻ đẹp của hai nhân vật.
a. Người vợ nhặt
Xuất hiện trong bối cảnh ngày đói quay quắt, ý chí bám lấy sự sống vấn rất mạnh mẽ trong nhân vật (bỏ qua ý thức về danh dự, chấp nhận theo không Tràng).Khi trở thành vợ của Tràng, ở chị không còn vẻ “chao chát”, “chỏng lỏn” mà thay vào đó là sự “hiền hậu đúng mực”, sự “ý tứ” với hành động “ngồi mớm ở mép giường”, “điềm nhiên và vào miệng”, “miếng cám nghẹn bứ, đắng chát”, cách đối xử chân tình với người chồng mới, ý thức tu sửa và dọn dẹp mái ấm gia đình.
Là một người có khao khát chân chính: mơ ước về tổ ấm gia đình, về hạnh phúc.
Nghệ thuật miêu tả nhân vật: đặt nhân vật trong tình huống “nhặt được vợ” vừa lạ vừa tội nghiệp, cùng với khả năng phân tích tâm lí sắc sảo, ngòi bút Kim Lân đã đi sâu khơi tìm đằng sau hiện thực khốn quẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người.
b. Người đàn bà hàng chài.
Đối lập với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch là vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo và cao khiết.
Mọi sự cam chịu đến nhẫn nhục của nhân vật đều xuất phát từ tình yêu thương con tha thiết, từ trái tim hồn hậu, vị tha của một người mẹ.Chị cũng là một người phụ nữ giàu đức hi sinh. Đặc điểm này cũng xuất phát từ tình mẫu tử, lòng yêu con tha thiết.Không những thế, người đàn bà tưởng như “khép nép”, “sợ sệt” lại là một người thấu hiểu lẽ đời, tình người. Trong khi Phùng và Điểu kết tội gã đàn ông là kẻ độc ác nhất thế gian thì chị lại lí giải những trận đòn kia bằng nỗi khổ vật chất đè nặng lên vai người đàn ông. Qua câu chuyện đời tự kể của chị, Phùng và Đẩu mới dần cảm nhận được lẽ đời và nhân tình thế thái một cách chân thực.Sử dụng biện pháp đối lập (giữa hình thức và tâm hồn), đặt nhân vật trong tình huống nhận thức độc đáo, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc khám phá “… ẩn giấu ” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài.
3. So sánh:
a. Điểm tương đồng:
Viết về hai người đàn bà trong hai bối cảnh khác nhau nhưng các nhà văn đều dồn tâm sức khai phá vẻ đẹp tiềm ẩn, khó thấy, khuất lấp của người phụ nữ bên cạnh số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng.Người vợ nhặt hay người đàn bà hàng chài đều là những nhân vật không tên tuổi, trở thành những khái quát nghệ thuật đặc sắc. Họ mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.Khám phá vẻ đẹp của người phụ nữ, cả hai nhà văn đều thể hiện niềm tin vào phẩm chất của con người dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhất.
b. Điểm khác biệt:
Đặt nhân vật trong bối cảnh nạn đói nên tâm điểm nghệ thuật của Kim Lân là khát vọng sống mãnh liệt, là những căn tích tốt đẹp bây lâu bị cái đói làm cho chìm khuất. Nguyễn Minh Châu lại xây dựng hình tượng người đàn bà trong bối cảnh xã hội sau năm 1975, khi chiến tranh đã đi qua nhưng cái nghèo, cái lạc hậu vẫn chưa hết, vì vậy nhân vật của ông được khám phá ở vẻ đẹp của nhận thức của sự thấu trải lẽ đời, tình người.

So sánh số phận, con đường giải phóng của nhân vật A Phủ trong Vợ chồng A Phủ và Tnú trong Rừng xà nu

Bài làm

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau của đất nước. Vợ chồng A Phủ (1952) là một truyện ngắn đặc sắc rút từ tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài. Truyện đã xây dựng thành công vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mãnh liệt và quá trình vùng lên chống lại bọn thực dân, chúa đất để tự giải phóng của đồng bào vùng cao Tây Bắc tổ quốc.

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965; đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc là tác phẩm đặc sắc của ông .Truyện xây dựng thành công vẻ đẹp của con người Tây Nguyên đi theo cách mạng, kiên cường, bất khuất, lựa chọn con đường đấu tranh vũ trang chiến đấu chống lại kẻ thù để tự giải phóng.

Tô Hoài xây dựng nhân vật A Phủ hiện lên với hình ảnh vô cùng đẹp: Chàng vượt lên bất hạnh ( mồ côi cha mẹ) trở thành một thanh niên lao động giỏi, thạo công việc , cần cù chịu thương chịu khó, tính cách bộc trực, thẳng thắn, hồn nhiên, ham hoạt động…Không sợ cường quyền bạo chúa , bị đẩy vào cuộc sống nô lệ vẫn mạnh mẽ ,gan góc …Có khát vọng sống tiềm tàng mãnh liệt, chạy khỏi nhà thống lí Pá Tra tìm đến chân trời tự do, tham gia đấu tranh góp phần giải phóng bản làng.

Với nghệ thuật khắc họa nhân vật sinh động, có cá tính: nhân vật A Phủ hiện lên thiên về hành động, công việc và vài lời đối thoại ngắn …Tác phẩm thành công ở nghệ thuật kể chuyện: cách giới thiệu nhân vật, dẫn dắt khéo léo , ngôn ngữ sinh động chọn lọc , nhiều sáng tạo …

Vẻ đẹp của nhân vật Tnú được thể hiện qua những phẩm chất như: Tnú là người gan góc, dũng cảm, mưu trí.Tnú là người gắn bó, trung thành với cách mạng được tôi luyện qua thử thách trở thành người chiến sĩ kiên trung, có tính kỉ luật cao.Tnú là người có trái tim yêu thương và sôi sục căm giận, biến đau thương thành hành động. Xây dựng thành công nhân vật vừa có nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu. Nghệ thuật trần thuật sinh động , khắc họa nhân vật trong những tình huống quyết liệt và mang đậm chất Tây Nguyên từ ngôn ngữ, tâm lí đến hành động…

Số phận, con đường giải phóng của nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tố Hoài và nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành có sự tương đồng và khác biệt trong vẻ đẹp của hai nhân vật:

Điểm tương đồng: Là hai nhân vật trung tâm trong văn học giai đoạn 1945-1975. Cả hai là những chàng trai của núi rừng tự do, mồ côi cha mẹ , đều có nghị lực vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt trở thành những con người có phẩm chất tốt đẹp ,đi theo cách mạng , chiến đấu bảo vệ quê hương. Cả hai đều được khắc họa với những chi tiết sống động, mang tính cách đậm bản sắc miền núi…

Nhưng vẫn có sự khác biệt: A Phủ là người con của núi rừng Tây Bắc, côi cút từ nhỏ, tự vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chế độ chúa đất và thực dân Pháp; còn Tnú là người con của núi rừng Tây Nguyên, sớm giác ngộ cách mạng được dân làng Xô Man nuôi dạy, vươn lên trong hoàn cảnh thử thách ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, Tnú là nhân vật được khắc họa mang đậm tính sử thi…

Thành công cơ bản của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Cả hai nhân vật Mị và A Phủ đều thể hiện một cách sống động vả chân thực những nét riêng, nét lạ trong tính cách của người Mông nói riêng và đồng bào miền núi nói chung. Trên hết là một lối sống mộc mạc, hồn nhiên, phóng khoáng, tự do. Những phẩm chất này khiến người Mông có một sinh lực sống dồi dào khiến họ đủ sức mạnh để vượt qua bất cứ sự áp bức đè nén nào. Mị bề ngoài lặng lẽ, âm thầm, nhẫn nhục nhưng bên trong sôi nổi một khát vọng sống, khát vọng tự do và hạnh phúc. A Phủ táo bạo, gan góc mà chất phác, tự tin. cả hai cùng là nạn nhân của bọn chúa đất, quan lại thống trị miền núi tàn bạo, độc ác. Trong con người họ tiềm ẩn sự phản kháng vô cùng mãnh liệt.

Bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo của Tô Hoài thể hiện rõ nhất qua việc thể hiện những diễn biến nội tâm tinh tế và phức tạp của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và hành động Mị cắt dây trói cứu A Phủ.

Tô Hoài vốn là nhà văn có biệt tài miêu tả thiên nhiên và những phong tục, tập quán xã hội. Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng cùng con người Tây Bắc với tính cách độc đáo… đã được tác giả khắc họa bằng ngòi bút tài hoa, mang phong vị đặc trưng của vùng núi rừng Tây Bắc.

Nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài uyển chuyển, linh hoạt, vừa tiếp thu truyền thống vừa sáng tạo. Nhà văn chủ yếu vẫn kể chuyện theo trình tự thời gian, tạo nên một dòng chảy liên tục nhưng nhiều lúc đan xen quá khứ với hiện tại một cách tự nhiên, hợp lí để làm nổi bật điểu cần thể hiện.

Qua việc miêu tả số phận của hai nhân vật Mị và A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã làm sống lại trước mắt người đọc cả quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn quan lại, chúa đất phong kiến. Quá trình giác ngộ cách mạng của vợ chồng A Phủ tiêu biểu cho con đường đến với Đảng, với cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi. Qua các hình tượng văn học trong tác phẩm, tác giả gián tiếp khẳng định chỉ có cách mạng mới giải phóng con người ra khỏi ách thống trị đầy áp bức bất công, giúp con người vươn tới cuộc sống tự do, hạnh phúc. Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của tác phẩm. Giá trị này giúp truyện đứng vững trước thử thách của thời gian và vẫn được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích.

Dù có như thế nào đi chăng nữa thì hai nhân vật Tnú và A Phủ chính là hai trong những anh hùng dân tộc ở miền ngược. Họ có những tố chất và phẩm chất của một người anh hùng. Thông qua 2 nhân vật, tác giả xây dựng nên hai số phận, và con đường giải phóng có nhiều điểm giống nhau. Nhưng họ đều có những cái riêng, cái đặc trưng mà không thể lẫn vào đâu.

Liên hệ Tây tiến và Đây thôn Vĩ Dạ

Liên hệ Tây tiến và Đây thôn Vĩ Dạ
Hội Gia sư Đà Nẵng

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

Bài làm
1. Mở bài :
Giới thiệu 2 tác giả , 2 bài thơ , 2 đoạn thơ

2. Thân bài :
+Ý khái quát : một vài nét về tác giả tác phẩm và vị trí đoạn thơ cần phân tích
+Phân tích, cảm nhận từng đoạn thơ:
a. Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến là cảnh sông nước miền Tây hoang sơ, thơ mộng, trữ tình.
Giữa khói sương của hoài niệm, Quang Dũng nhớ về một “chiều sương ấy”- khoảng thời gian chưa xác định rõ ràng nhưng dường như đã khắc sâu thành nỗi nhớ niềm thương trong tâm trí nhà thơ. Đó có thể là khi đoàn quân chia tay một bản làng Tây Bắc chăng? Quá khứ vọng về là những hình ảnh mờ mờ ảo ảo, lung linh huyền hoặc: “hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc” và “hoa đong đưa”. Cảnh vật hiện lên qua nét vẽ của Quang Dũng dù rất mong manh mơ hồ nhưng lại rất giàu sức gợi, rất thơ, rất thi sĩ, rất đậm chất lãng mạn của người lính Hà thành:

“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc”

Câu hỏi tu từ với phép điệp “có thấy”, “có nhớ” dồn dập như gọi về biết bao kỷ niệm của một thời đã xa. Trong tâm tưởng của nhà thơ, cây lau tưởng như vô tri vô giác cũng mang hồn. Cách nhân hoá có thần đã khiến thiên nhiên trở nên đa tình thơ mộng hơn. Thiên nhiên mang “hồn” là bởi nhà thơ có cái nhìn hào hoa nhạy cảm hay bởi nơi đây còn vương vất linh hồn của những đồng đội của nhà thơ? Sự cảm nhận tinh tế hoà quyện với thanh âm da diết của nỗi nhớ đã làm vần thơ thêm chứa chan xúc cảm.
Bên cạnh thiên nhiên, hình ảnh con người thấp thoáng trở về trong hồi ức của Quang Dũng . “trên độc mộc”- chiếc thuyền làm bằng cây gỗ lớn, bóng dáng con người hiện lên đầy kiêu hùng, dũng cảm mà tài hoa khéo léo giữa dòng nước xối xả, mạnh mẽ đặc trưng của miền Tây. Phải chăng tư thế đó đủ để người đọc nhận ra vẻ đẹp riêng của con người Tây Bắc, của đoàn binh Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ mà hào hùng?. “dáng người” ở đây có thể là dáng hình của người Tây Bắc, cũng có thể là chính những chiến sĩ Tây Tiến đang đối mặt với thách thức của thiên nhiên dữ dội chăng? Dù hiểu theo cách nào, dáng người trong thơ Quang Dũng cũng luôn khảm sâu trong tâm trí nhà thơ, luôn hiên ngang kiêu hùng mà uyển chuyển, tài hoa và khéo léo:

“Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Có thể khẳng định rằng, đây là một trong những chi tiết ‘đắt’ nhất mà Quang Dũng tạo nên cho bức tranh thiên nhiên miền Tây, đoá hoa giữa dòng là hội tụ của cái nhìn đa tình vốn có trong tâm hồn người lính Hà Thành trẻ tuổi và vẻ thơ mộng của cảnh sắc nơi đây. Nói như thế là bởi, ta nghiệm ra rằng, hình ảnh “hoa đong đưa” khi đang “trôi dòng nước lũ” là hình ảnh không thể có trong thực tại nhưng lại rất hợp lý khi đặt giữa mạch cảm hứng trữ tình của bài thơ. Cánh hoa như đôi mắt đong đưa, lúng liếng với người lính trẻ hay bởi tâm hồn các anh quá hào hoa, quá lãng mạn yêu đời nên mới có thể nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn đa tình đến như thế? Bằng bút pháp lãng mạn với phép nhân hoá, Quang Dũng đã vẽ nên nét vẽ thần tình, thâu tóm trọn vẹn vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, gửi gắm vào đó cả nỗi nhớ niềm thương luôn cháy bỏng trong trái tim ông. Phải yêu lắm đồng đội, yêu lắm thiên nhiên và con người nơi đây thì Quang Dũng mới có thể diễn tả tinh tế vẻ đẹp của chiều sương cao nguyên đến như vậy!

Bút pháp lãng mạn hào hoa, phép nhân hoá thần tình, cách dùng điệp từ khéo léo đã quyện hoà với nỗi nhớ chưa bao giờ nguôi ngoai trong sâu thẳm tâm trí nhà thơ về đồng đội và thiên nhiên miền Tây Tổ quốc, tất cả tạo nên điểm sáng lấp lánh của tâm hồn một người chiến sĩ thiết tha với Tây Tiến, với quê hương. Xin nhắc mãi vần thơ của ông trong nỗi nhớ chơi vơi da diết!

b. Đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ là khung cảnh sông nước xứ Huế qua cảm nhận của cái tôi trữ tình đầy tâm trạng.

Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mới lên” … ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mạc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng “gió theo lối gió”. Cũng có mây, nhưng “mây đường mây”. Mây gió đôi đường, đôi ngả:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”.

Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi ta một không gian gió, mây chia lìa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông. Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm thấy gió mây đôi ngả đôi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mạc Tử.

Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy. Mà chỉ có “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm. Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hóa thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm mơ hồ, xa vắng. “Buồn thiu” là buồn héo hon cả gan ruột, một nỗi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế. Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay”. Chữ “lay” gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió nhẹ. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tình người và hồn người.

Hai câu thơ 14 chữ với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội tụ hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mạc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cô đơn.

Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào. “Dòng nước buồn thiu” đã biến hóa kì diệu thành “sông trăng” thơ mộng.

“Thuyền, ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình. Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?”. “Thuyền ai” phiếm chỉ, gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ, gần đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Cả hai câu thơ của Hàn Mạc Tử, câu thơ nào cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò. Con thuyền không chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ “chở trăng về” phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng! Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì “thuyền ai”: Con thuyền vô định. Phiếm chỉ — là con thuyền mồ côi. Còn đâu cô gái Huế diễm kiều, e ấp, mà chơ vơ còn lại con thuyền mồ côi khắc khoải đợi chờ trăng!

Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng. Cảnh đẹp một cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng cô đơn, thương nhớ đối với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế, từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên một loài hoa. Với chàng thi sĩ tài hoa đa tình và bất hạnh, đang sống trong cô đơn và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”, cảnh thuyền ai đậu bến sông trăng đó là cảnh đẹp mà buồn., Buồn vì chia lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng.

3. Nét tương đồng và khác biệt
a. Tương đồng:
+ Cả hai đoạn thơi đều là sự cảm nhận của cái tôi trữ tình về khung cảnh sông nước quê hương.
+ Chính cái tôi lãng mạn chắp cánh cho cảnh vật thêm thơ mộng, huyền ảo, lung linh. Cả hai đoạn thơ đều cho thấy nét bút tài hoa của hai thi sĩ.
b. Khác biệt:
+ Đoạn thơ trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ mang màu sắc tâm trạng chia ly,mong nhớ khắc khoải.
+ Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến mang nỗi nhớ da diết về thiên nhiên miền Tây, về kỷ niệm kháng chiến.

4. Lí giải sự tương đồng và khác biệt
+ Cả Quang Dũng và Hàn Mặc Tử đều là những hồn thơ lãng mạn, tài hoa.
+ Mỗi nhà thơ đều mang một cảm xúc riêng khi đứng trước khung cảnh sông nước.
+ Hoàn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng của mỗi nhà thơ và hoàn cảnh thời đại để lại dấu ấn trong cảm xúc và hình ảnh thơ của mỗi nhà thơ.

Kết bài :
Đánh giá chung
– Hai đoạn thơ thể hiện cho vẻ đẹp tâm hồn của hai nhà thơ ở hai thời cuộc, hai cảnh ngộ khác nhau

-Hai đoạn thơ kết tinh tài năng nghệ thuật của Hàn Mặc Tử và Quang Dũng

(Visited 11.890 times, 5 visits today)

Leave a Comment